Thuận Văn
09-06-2009, 03:25 PM
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THAI TRỨNG (thai eggs)
Thai trứng, còn gọi là chửa trứng, tức là bệnh gai nhau ứ nước. Bệnh này khá phổ biến ở Việt Nam. Số liệu thống kê của Bộ Y tế cho thấy, tỷ lệ người mang thai trứng chiếm khoảng 1/500 nười có thai. Bệnh thai trứng thường lành tính, nhưng trong một số trường hợp, nó có thể dẫn đến các biến chứng đáng sợ như thai trứng xâm lấn hay ung thư tế bào nuôi.
Nếu không được điều trị và theo dõi sát sau điều trị, bệnh nhân thai trứng có thể bị ung thư tế bào nuôi – một bệnh lý chiếm tỷ lệ khá cao ở Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á khác. Bệnh dẫn đến biến chứng ác tính ở các cơ quan quan trọng của cơ thể như: phổi, não, gan, thận.., gây tử vong.
Về cơ chế hình thành thai trứng: Thông thường, sau khi tinh trùng kết hợp với noãn sẽ trở thành trứng thụ tinh, phát triển thành thai nhi và các phần phụ như: nhau và túi ối. Trong một số trường hợp, tế bào nuôi phát triển quá nhanh, tổ chức liên kết và các mao mạch của mạch máu rốn ở gai nhau không phát triển kịp. Gai nhau bị thoái hóa, phù nề tạo thành các túi chứa dịch dính vào nhau giống như chùm nho và chiếm phần lớn buồng tử cung. Hiện tượng này gọi là Thai trứng.
Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây ra hiện tượng này. Nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố làm tăng nguy cơ cho thai phụ như: lớn tuổi, sinh nhiều lần, suy dinh dưỡng (chủ yếu là thiếu đạm) vấn đề miễn dịch của cơ thể.
Về việc phát hiện và điều trị, thì “rong huyết” là triệu chứng thường gặp nhất, xảy ra sau khi trễ kinh vài tuần. Máu chảy có thể ít hoặc nhiều, thường là máu bầm đen, (đau bụng từng cơn, rồi ra từng chùm túi trứng nhỏ), loãng, kéo dài, tăng huyết áp. Bệnh nhân bị nghén nặng, nôn nhiều và kéo dài, thể trạng mệt mỏi, xanh xao, đôi khi xuất hiện phù.. Khoảng một nửa bệnh nhân có tử cung to ra nhanh so với tuổi thai; số còn lại có tử cung phát triển bình thường hoặc bé do thai trứng thoái triển. Ở tuần thứ 20, các trường hợp thai trứng sẽ không có tim thai, sờ nắn bên ngoài không thấy các phần thai.
Trứng có thể ăn sâu vào cơ tử cung, gây chảy máu ổ bụng. Khoảng 30% thai trứng lành tính biến chứng thành ung thư. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, thai phụ có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng do băng huyết hoặc thủng tử cung.
Khi đã xác định thai trứng thì cần được xử trí càng sớm càng tốt. Nếu trứng chưa sẩy thì tiến hành nạo hoặc hút. Các bệnh viện chuyên khoa thường chọn hút nạo, vì phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian thực hiện (với khối lượng trứng 1.500 ml, chỉ mất 5 – 10 phút), bệnh nhân ít mất máu. Nó cũng không gây biến chứng thủng tử cung khi bệnh nhân được tiêm thuốc hỗ trợ tử cung co bóp. Đối với phụ nữ trên 40 tuổi hoặc không muốn có con thì có thể cắt bỏ tử cung để ngăn ngừa biến chứng ác tính.
Trong trường hợp cổ tử cung dài, đóng chặt hoặc cần quan sát kiểm tra buồng tử cung, bác sĩ sẽ thực hiện thủ thuật mở tử cung để lấy khối trứng.
Sau khi xuất viện, bệnh nhân phải được theo dõi liên tục, 2 tuần/lần trong 6 tháng kế tiếp và 8 tuần/lần trong 8 tháng tiếp theo. Trong thời gian theo dõi, bệnh nhân không được có thai. Cần thực hiện tránh thai ít nhất trong vòng 2 năm để có đủ thời gian theo dõi về khả năng bệnh chuyển thành ác tính.
Để phòng bệnh, bạn cần ăn uống đấy đủ chất dinh dưỡng, không sinh quá nhiều và quá “gần nhau” (sinh hoạt tình dục), đi khám thai định kỳ theo chỉ định của bác sĩ. Trường hợp muốn sinh con khi tuổi đã lớn bạn cần cân nhắc thật kỹ.
Những người có biểu hiện nghi ngờ thai trứng, cần đến bệnh viện để khám và làm các xét nghiệm như: đo ngưỡng hormone hSG trong máu hay nước tiểu, chụp buồng phổi, chụp động mạch, siêu âm tử cung…
Bác Sĩ Trần Văn Thuận
Thai trứng, còn gọi là chửa trứng, tức là bệnh gai nhau ứ nước. Bệnh này khá phổ biến ở Việt Nam. Số liệu thống kê của Bộ Y tế cho thấy, tỷ lệ người mang thai trứng chiếm khoảng 1/500 nười có thai. Bệnh thai trứng thường lành tính, nhưng trong một số trường hợp, nó có thể dẫn đến các biến chứng đáng sợ như thai trứng xâm lấn hay ung thư tế bào nuôi.
Nếu không được điều trị và theo dõi sát sau điều trị, bệnh nhân thai trứng có thể bị ung thư tế bào nuôi – một bệnh lý chiếm tỷ lệ khá cao ở Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á khác. Bệnh dẫn đến biến chứng ác tính ở các cơ quan quan trọng của cơ thể như: phổi, não, gan, thận.., gây tử vong.
Về cơ chế hình thành thai trứng: Thông thường, sau khi tinh trùng kết hợp với noãn sẽ trở thành trứng thụ tinh, phát triển thành thai nhi và các phần phụ như: nhau và túi ối. Trong một số trường hợp, tế bào nuôi phát triển quá nhanh, tổ chức liên kết và các mao mạch của mạch máu rốn ở gai nhau không phát triển kịp. Gai nhau bị thoái hóa, phù nề tạo thành các túi chứa dịch dính vào nhau giống như chùm nho và chiếm phần lớn buồng tử cung. Hiện tượng này gọi là Thai trứng.
Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây ra hiện tượng này. Nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố làm tăng nguy cơ cho thai phụ như: lớn tuổi, sinh nhiều lần, suy dinh dưỡng (chủ yếu là thiếu đạm) vấn đề miễn dịch của cơ thể.
Về việc phát hiện và điều trị, thì “rong huyết” là triệu chứng thường gặp nhất, xảy ra sau khi trễ kinh vài tuần. Máu chảy có thể ít hoặc nhiều, thường là máu bầm đen, (đau bụng từng cơn, rồi ra từng chùm túi trứng nhỏ), loãng, kéo dài, tăng huyết áp. Bệnh nhân bị nghén nặng, nôn nhiều và kéo dài, thể trạng mệt mỏi, xanh xao, đôi khi xuất hiện phù.. Khoảng một nửa bệnh nhân có tử cung to ra nhanh so với tuổi thai; số còn lại có tử cung phát triển bình thường hoặc bé do thai trứng thoái triển. Ở tuần thứ 20, các trường hợp thai trứng sẽ không có tim thai, sờ nắn bên ngoài không thấy các phần thai.
Trứng có thể ăn sâu vào cơ tử cung, gây chảy máu ổ bụng. Khoảng 30% thai trứng lành tính biến chứng thành ung thư. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, thai phụ có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng do băng huyết hoặc thủng tử cung.
Khi đã xác định thai trứng thì cần được xử trí càng sớm càng tốt. Nếu trứng chưa sẩy thì tiến hành nạo hoặc hút. Các bệnh viện chuyên khoa thường chọn hút nạo, vì phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian thực hiện (với khối lượng trứng 1.500 ml, chỉ mất 5 – 10 phút), bệnh nhân ít mất máu. Nó cũng không gây biến chứng thủng tử cung khi bệnh nhân được tiêm thuốc hỗ trợ tử cung co bóp. Đối với phụ nữ trên 40 tuổi hoặc không muốn có con thì có thể cắt bỏ tử cung để ngăn ngừa biến chứng ác tính.
Trong trường hợp cổ tử cung dài, đóng chặt hoặc cần quan sát kiểm tra buồng tử cung, bác sĩ sẽ thực hiện thủ thuật mở tử cung để lấy khối trứng.
Sau khi xuất viện, bệnh nhân phải được theo dõi liên tục, 2 tuần/lần trong 6 tháng kế tiếp và 8 tuần/lần trong 8 tháng tiếp theo. Trong thời gian theo dõi, bệnh nhân không được có thai. Cần thực hiện tránh thai ít nhất trong vòng 2 năm để có đủ thời gian theo dõi về khả năng bệnh chuyển thành ác tính.
Để phòng bệnh, bạn cần ăn uống đấy đủ chất dinh dưỡng, không sinh quá nhiều và quá “gần nhau” (sinh hoạt tình dục), đi khám thai định kỳ theo chỉ định của bác sĩ. Trường hợp muốn sinh con khi tuổi đã lớn bạn cần cân nhắc thật kỹ.
Những người có biểu hiện nghi ngờ thai trứng, cần đến bệnh viện để khám và làm các xét nghiệm như: đo ngưỡng hormone hSG trong máu hay nước tiểu, chụp buồng phổi, chụp động mạch, siêu âm tử cung…
Bác Sĩ Trần Văn Thuận